Sáng ngày 8/1/2018 , trường Tiểu học Nguyễn Việt Hồng tổ chức chuyên đề giáo dục sức khỏe học sinh " BỆNH SỞI VÀ RUBELLA".
*CÁCH PHÂN BIỆT BỆNH SỞI VÀ RUBELLLA
Bệnh Rubella có thể nhầm với bệnh sởi bởi có một số biểu hiện tương đối giống nhau. Bệnh sởi thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên và có thể gặp ở những trẻ lớn mà chưa có miễn dịch chống virut sởi. Thời kỳ nung bệnh của bệnh sởi ngắn hơn bệnh Rubella (khoảng từ 7 - 10 ngày). Bệnh khởi phát sốt đột ngột trên 38oC, mắt ướt, nhiều ghèn làm cho mắt bị kèm nhèm, chảy mũi nước, ho và có thể bị rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy). Đặc biệt khi bệnh sởi toàn phát thì sốt rất cao, có khi thân nhiệt lên tới 39 - 40oC, thể trạng li bì, mệt mỏi nhiều. Ban của sởi xuất hiện đầu tiên ở sau tai rồi lan ra mặt, mắt, cổ, thân mình và tứ chi trong vòng từ 1 - 2 ngày. Khi hết sốt thì ban sởi bắt đầu mất dần (sởi bay) và sau khi sởi bay có để lại các nốt thâm trên da trong một thời gian làm cho da bị loang lổ trông giống da hổ. Các ban của sởi mất dần theo tuần tự (nơi nào ban xuất hiện trước thì bay trước, xuất hiện sau thì bay sau). Bệnh sởi cũng có nhiều loại biến chứng khác nhau nhưng thông thường hay gặp nhất là gây viêm phổi, viêm phế quản - phổi từ mức độ nhẹ đến nặng và có thể gây tử vong nếu không cấp cứu kịp thời, nhất là trẻ dưới 1 tuổi. Ngoài ra, bệnh sởi cũng có thể gây biến chứng viêm tai, viêm xoang, viêm răng lợi (nguy hiểm nhất là gây nên bệnh cam tẩu mã), viêm loét giác mạc mắt.
Khi nghi ngờ bị bệnh Rubella, cần đi khám bệnh để được xác định bệnh. Với trẻ mắc bệnh ở thể nhẹ thì có thể cho trẻ ở nhà và chăm sóc tại gia đình, với phụ nữ đang mang thai cần khám ở khoa sản phụ để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp. Cần cách ly với trẻ lành và những người chưa có miễn dịch chống bệnh Rubella, đặc biệt là phụ nữ đang mang thai. Cần quan tâm đến chế độ ăn, uống của trẻ bị bệnh, tốt nhất là cho trẻ ăn thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu (cháo, súp, sữa...), uống nhiều nước (dung dịch orezol, các loại nước hoa quả tươi) để bù lượng nước và chất điện giải đã bị mất do sốt.
Bệnh rubella có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nung bệnh 12-14 ngày, khởi phát với các triệu chứng sốt nhẹ, các dấu hiệu mắt ướt, ho, chảy nước mũi, ỉa lỏng... nhưng gần như không thấy. Khi bệnh toàn phát, các biểu hiện mới rõ: mệt mỏi, sốt nhẹ, chảy nước dãi và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. Trẻ ít khi nằm li bì, xung huyết mắt, da mặt, hạch to ở dọc hai bên cổ, không đau. Các nốt ban trên da dạng chấm đỏ rải rác, mọc không có quy luật. Có thể thấy đau khớp. Khi bệnh lui thường hết sốt, ban bay nhanh không theo quy luật, không để lại các dấu vết trên da, hạch trở về bình thường muộn hơn, thường sau 1 tuần.
Về biến chứng, bệnh sởi có thể gây viêm phổi, viêm phế quản thậm chí dẫn đến tử vong (nhất là ở trẻ dưới 1 tuổi), viêm tai giữa, xoang, răng lợi, tiêu chảy mất nước, suy dinh dưỡng; viêm loét giác mạc... Các biến chứng thường xuất hiện khi bệnh toàn phát hoặc đã lui.
Các biến chứng của Rubella chủ yếu là đau và sưng khớp, nhất là ở phụ nữ cao tuổi (chiếm 70%), viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thần kinh, gây dị dạng thai nhi ở phụ nữ có thai. Phụ nữ mắc bệnh rubella khi đang mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh như bệnh tim, đầu nhỏ, chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc, các tổn thương xương dài...
* BỆNH SỞI
- Mắt đỏ dấu hiệu của viêm võng mạc, không chịu được ánh sáng, sốt nhẹ ho khan , ho không có đờm kéo dài liên tục, chảy nước mũi…Bên trong miệng, gần gò má sẽ xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên là các nốt sần trắng xanh.
- Đến giai đoạn phát ban khi bệnh đã bắt đầu lan nhanh ra bên ngoài bằng những mảng ban to nổi cộm lên bề mặt da ở vùng mặt, cổ cánh tay, đùi….và lan dần xuống chân cho đến hết.
- Trong giai đoạn phát ban những vết ban lan rất nhanh kèm theo các triệu chứng sốt cao có khi lên đến 104 độ F. Bệnh nhân cảm thấy khó chịu, mệt mỏi.
Đó là những dấu hiệu bệnh sởi thông thường nhất có thể thấy, tuy nhiên bệnh sởi còn có những biến chứng nguy hiểm như gây ra các bệnh: viêm não, viêm giác mạc, tiêu chảy, viêm phế quản, tai mũi họng…
Cách điều trị bệnh sởi
Để bệnh sởi không còn là nỗi lo cho những bậc phụ huynh và cho toàn xã hội, các bạn nên có sự chuẩn bị tốt nhất để cho các em có khả năng miễn dịch bệnh sởi bằng cách phòng bệnh sởi sau:
- Đưa bé đi tiêm vắc xin phòng bệnh sởi sớm nhất. Sau khi bé được một tuổi cần cho bé đi tiêm hai mũi vacxin phòng sởi. Mũi đầu khi bé 12-15 tháng và mũi sau khi bé từ 4-6 tuổi. Tuy nhiên có thể tiêm liều 2 sớm hơn nhưng cách liều 1 ít nhất bốn tuần. Lý do cần thiết phải tiêm liều thứ 2 là do có khoảng 2-5% số bé được tiêm sẽ không tạo ra kháng thể chống sởi sau liều đầu. Liều 2 để giúp những bé này tăng kháng thể chống sởi.
- Khi bé chưa tới tuổi được tiêm vacxin, cho bé sử dụng sữa mẹ càng nhiều càng tốt. Trong sữa mẹ có kháng thể chống bệnh sởi. Tuy kháng thể này là kháng thể thụ động, không mạnh như kháng thể tạo ra khi bé được tiêm vacxin nhưng nếu được bú sữa mẹ liện tực, lượng kháng thể này cũng có thể giúp bé chống lại bệnh sởi hoặc làm nhẹ bệnh nếu bị mắc phải.
- Vệ sinh thường xuyên cho các bé, nhất là vệ sinh răng miệng, đường hô hấp, giữ cho các bé luôn sạch sẽ, tránh tiếp xúc trực tiếp với người bệnh sởi.
- Tăng cường bổ sung vitamin, rau quả xanh tăng sức đề kháng cho trẻ.
- Khi nghi ngờ những biểu hiện trẻ mắc bệnh sởi phải đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để chuẩn đoán và điều trị. Phần lớn những trường hợp bé bị năng có thể dẫn tới tử vong là do mẹ châm mang bé tới bệnh viện.
Để hạn chế được những biến chứng vô cùng nguy hiểm của căn bệnh sởi, cha mẹ nên đưa con em mình đi khám ngay khi có dấu hiệu của bệnh
.




* BỆNH RUBELLA
Bệnh rubella do vi-rút rubella gây ra, đây là bệnh sốt phát ban lành tính, nhưng rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai. Bệnh rất dễ lây lan, chủ yếu là qua đường hô hấp và người nhiễm bệnh là nguồn bệnh duy nhất. Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là nguồn truyền nhiễm rất cao cho người tiếp xúc, vi-rút có thể đào thải nhiều tháng sau khi sinh. Những triệu chứng của bệnh rất nhẹ nên rất khó phát hiện, đặc biệt ở trẻ em.
Bệnh khởi phát sau 10 ngày đến 15 ngày kể từ lúc tiếp xúc với người bệnh. Triệu chứng thông thường là mệt mỏi, sốt nhẹ, nhức đầu, sưng hạch kéo dài từ 1 đến 7 ngày. Những nốt ban màu hồng mịn, bắt đầu từ mặt và nhanh chóng lan xuống thân, sau đó xuống cánh tay và chân trước trước khi biến mất. Ban tồn tại từ 1 đến 5 ngày, nhưng thường gặp nhất là 3 ngày. Trong khoảng thời gian từ 7 ngày trước phát ban và trong lúc phát ban là thời gian mà người bệnh có khả năng lây bệnh cao nhất.
Bệnh rubella do vi-rút rubella gây ra, đây là bệnh sốt phát ban lành tính, nhưng rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai. Bệnh rất dễ lây lan, chủ yếu là qua đường hô hấp và người nhiễm bệnh là nguồn bệnh duy nhất. Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là nguồn truyền nhiễm rất cao cho người tiếp xúc, vi-rút có thể đào thải nhiều tháng sau khi sinh. Những triệu chứng của bệnh rất nhẹ nên rất khó phát hiện, đặc biệt ở trẻ em.


Virus Rubella


Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh rubella. Biện pháp phòng bệnh duy nhất là tiêm chủng. Loại vắc - xin đang sử dụng hiện nay là vắc - xin phối hợp ngừa 3 bệnh: Sởi, quai bị, rubella. Sử dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn. Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng các biện pháp không đặc hiệu khác như: Mặc đủ ấm, ăn uống đủ dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp.
Lịch tiêm chủng ngừa 3 bệnh rubella, sởi, được áp dụng như sau: Trẻ em, mũi thứ nhất: 12 tháng tuổi; mũi thứ hai: 4 đến 6 tuổi. Các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch và tại các cơ sở y tế. Trước khi tiêm, cán bộ y tế cần khám sơ loại, nếu trẻ đang mắc các bệnh khác, có thể hoãn lịch tiêm đến khi trẻ khỏe mạnh bình thường. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tiêm một liều duy nhất, nhưng chỉ được có thai sau khi tiêm 3 tháng.
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh rubella. Biện pháp phòng bệnh duy nhất là tiêm chủng. Loại vắc - xin đang sử dụng hiện nay là vắc - xin phối hợp ngừa 3 bệnh: Sởi, quai bị, rubella. Sử dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn. Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng các biện pháp không đặc hiệu khác như: Mặc đủ ấm, ăn uống đủ dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp.